Hôn nhân và gia đình

Quy định về điều kiện kết hôn, các hành vi bị cấm trong hôn nhân và gia đình

Cập nhật ngày: 28/07/2015
Câu hỏi: Chị Đ và anh B cưới nhau năm 2000 có đăng ký kết hôn tại UBND xã. Sau khi sinh cháu gái Minh P, chị bị vô sinh thứ phát và đã chữa trị hơn mười năm mà vẫn khôgn có kết quả. Qua tìm hiểu, chị thấy cô C ở xóm bên (chồng đã mất cách đây 3 năm) trước kia cũng có tình cảm với anh Đ, nay vẫn chưa tái giá mà ở vậy với cô con gái 5 tuổi nên muốn cưới cô C cho chồng mình để mong sinh con trai lấy người hương khói sau này (anh B là con độc nhất trong gia đình). Chị Đ băn khoăn trong hoàn cảnh của chị, chị có được cưới thêm vợ cho chồng mình không? Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về điều kiện kết hôn và các hành vi bị cấm trong hôn nhân và gia đình?
Trả lời: Kết hôn theo quy định của pháp luật là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn; là sự thừa nhận của Nhà nước về quan hệ vợ chồng của những người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, là mốc khởi đầu làm phát sinh quan hệ hôn nhân.
Nhà nước quy định điều kiện kết hôn nhằm hướng tới xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ.
Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”
Bên cạnh đó, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.
Đồng thời, khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm các hành vi trong hôn nhân và gia đình như sau:
“a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.”
Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên của pháp luật thì chị Đ không thể cưới cô C cho anh B khi mà chị vẫn đang là vợ hợp pháp (có đăng ký kết hôn tại UBND xã sở tại) của anh B.

Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪