Xử lý vay nợ quá hạn giữa cá nhân như thế nào?
Cập nhật ngày: 24/07/2015
Câu hỏi: Ngày 10/8/2013, tôi có cho bà Trần Thị H vay 300 triệu đồng (có hợp đồng vay tiền, thời hạn vay là 06 tháng). Đến nay đã quá thời hạn trả nợ theo hợp đồng mà bà H không trả tiền cho tôi cả gốc lẫn lãi. Vậy tôi phải làm gì để đòi lại số tiền đã cho bà H vay?
Trả lời: Điều 474 Bộ luật Dân năm 2005 sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.
5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”
Căn cứ vào Điều 474 Bộ luật Dân sự thì bà H có nghĩa vụ trả đủ số tiền gốc và lãi suất cho ông khi hết hạn hợp đồng. Đã quá thời hạn theo hợp đồng vay tiền mà bà H không thực hiện việc trả nợ cho ông thì bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật, lúc này giữa ông và bà H đã phát sinh tranh chấp về hợp đồng vay tiền.
Nhằm tạo điều kiện cho bà H trả nợ, trên cơ sở thương lượng của hai bên, ông nên chủ động gặp bà H và thỏa thuận lại thời gian, phương thức trả nợ. Nếu thỏa thuận về việc trả nợ không thành, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, ông có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, nơi bà H đang cư trú, yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền buộc bà H phải trả nợ cho ông.
(Điều 427 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 25, Điểm a Khoản 1 Điều 33, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011).
Trân trọng!
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.
5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”
Căn cứ vào Điều 474 Bộ luật Dân sự thì bà H có nghĩa vụ trả đủ số tiền gốc và lãi suất cho ông khi hết hạn hợp đồng. Đã quá thời hạn theo hợp đồng vay tiền mà bà H không thực hiện việc trả nợ cho ông thì bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật, lúc này giữa ông và bà H đã phát sinh tranh chấp về hợp đồng vay tiền.
Nhằm tạo điều kiện cho bà H trả nợ, trên cơ sở thương lượng của hai bên, ông nên chủ động gặp bà H và thỏa thuận lại thời gian, phương thức trả nợ. Nếu thỏa thuận về việc trả nợ không thành, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, ông có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, nơi bà H đang cư trú, yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền buộc bà H phải trả nợ cho ông.
(Điều 427 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 25, Điểm a Khoản 1 Điều 33, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011).
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










