Tư vấn về vay nợ và thưa kiện vỡ nợ
Cập nhật ngày: 09/01/2016
Câu hỏi: Chào luật sư; Tôi có người quen, cô đang có một số nợ lớn. Thời gian gần đây do mất khả năng chi trả nên đi làm ăn xa để có tiền trả nợ. Tháng 12/2015, một số chủ nợ đã đâm đơn kiện và chờ ngày ra tòa. Vợ chồng cô trước kia ở tại mảnh đất thuộc sở hữu của mẹ chồng (khoảng 20 năm). Cách đây 2 năm, mẹ chồng có làm giấy chuyển tên sở hữu cho chồng cô. Nay, tôi muốn hỏi:
1. Tài sản này được pháp luật xem là tài sản chung hay tài sản riêng? Và có bị phát mãi để thanh toán cho các chủ nợ hay không?
2. Trường hợp muốn chứng minh là tài sản riêng của chồng thì có tránh được việc phát mãi liên quan đến số nợ kia không? Và cần những thủ tục giấy tờ gì?
3. Việc vay nợ này người chồng không biết và không có sự đồng thuận của 2 người. Chi tiết này có được xem là nợ riêng của người vợ để tránh phát mãi tài sản không?
4. Số nợ tranh chấp khoảng 2 tỉ, đây có được xem là vụ án dân sự? Và phương thức trả nợ sẽ như thế nào?
Xin cám ơn luật sư!
1. Tài sản này được pháp luật xem là tài sản chung hay tài sản riêng? Và có bị phát mãi để thanh toán cho các chủ nợ hay không?
2. Trường hợp muốn chứng minh là tài sản riêng của chồng thì có tránh được việc phát mãi liên quan đến số nợ kia không? Và cần những thủ tục giấy tờ gì?
3. Việc vay nợ này người chồng không biết và không có sự đồng thuận của 2 người. Chi tiết này có được xem là nợ riêng của người vợ để tránh phát mãi tài sản không?
4. Số nợ tranh chấp khoảng 2 tỉ, đây có được xem là vụ án dân sự? Và phương thức trả nợ sẽ như thế nào?
Xin cám ơn luật sư!
Trả lời: Thứ nhất, việc xác định tài sản chung hay riêng của người chồng phải căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất.
- Tàn sản là tài sản riêng của người chồng trong thời kỳ hôn nhân trường hợp được mẹ tặng cho riêng theo quy định tại Điều 32 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 (vì thời điểm tặng cho xảy ra cách đây 2 năm nên áp dụng Luật hôn nhân gia đình năm 2000) và trong quá trình sử dụng chưa được thỏa thuận nhập vào tài sản chung vợ chồng
- Tài sản là tài sản chung của vợ chồng nếu không thỏa mãn được các điều kiện nêu trên
Thứ hai, việc phát mại khối tài sản này để thanh toán cho chủ nợ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Không phải bất kỳ khoản nợ nào cũng được mang tài sản ra phát mại để thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Việc này cần phải được xem xét vào các tình tiết của vụ việc và các căn cứ pháp luật. Tòa án là cơ quan ra quyết định cho việc phát mại tài sản
Hơn nữa, khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản sau: "1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm"
Trong trường hợp này, người chồng không biết và không đồng thuận với các giao dịch này của người vợ. Như vậy, việc vay nợ này không phải là quan hệ được xác lập đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 24, 25, 26 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nên tài sản riêng của người chồng không được dùng để thực hiện trách nhiệm liên đới của vợ, chồng theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 28 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định: "các quy định tại các điều 29, 30, 31, và 32 của luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.
Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
......."
Như vậy, nếu có thể chứng minh được việc vay nợ của người vợ nhằm kiếm tiền phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình thì người chồng vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014
Thứ ba, bản chất của giao dịch này là giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nếu người vợ bỏ trốn thì có thể căn cứ quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự
"1. Người nào có một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Nếu lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên thì sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân
........
4. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."
Vì vậy, để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người vợ khi rời khỏi nơi cư trú để sinh sống ở nơi khác thì nên khai báo tạm trú, tạm vắng đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền. Đối với chủ nợ thì vẫn phải thể hiện thiện chí trả nợ bằng việc thỏa thuận các phương án trả nợ. Với các tình tiết như vậy, trường hợp không thỏa thuận được thì các chủ nợ cũng chỉ khởi kiện được người vợ ra Tòa án dân sự (với điều kiện người vợ không sử dụng khoản tiền vay này vào mục đích bất hợp pháp).
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời chị đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn chị đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
- Tàn sản là tài sản riêng của người chồng trong thời kỳ hôn nhân trường hợp được mẹ tặng cho riêng theo quy định tại Điều 32 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 (vì thời điểm tặng cho xảy ra cách đây 2 năm nên áp dụng Luật hôn nhân gia đình năm 2000) và trong quá trình sử dụng chưa được thỏa thuận nhập vào tài sản chung vợ chồng
- Tài sản là tài sản chung của vợ chồng nếu không thỏa mãn được các điều kiện nêu trên
Thứ hai, việc phát mại khối tài sản này để thanh toán cho chủ nợ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Không phải bất kỳ khoản nợ nào cũng được mang tài sản ra phát mại để thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Việc này cần phải được xem xét vào các tình tiết của vụ việc và các căn cứ pháp luật. Tòa án là cơ quan ra quyết định cho việc phát mại tài sản
Hơn nữa, khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản sau: "1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm"
Trong trường hợp này, người chồng không biết và không đồng thuận với các giao dịch này của người vợ. Như vậy, việc vay nợ này không phải là quan hệ được xác lập đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 24, 25, 26 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nên tài sản riêng của người chồng không được dùng để thực hiện trách nhiệm liên đới của vợ, chồng theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 28 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định: "các quy định tại các điều 29, 30, 31, và 32 của luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.
Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
......."
Như vậy, nếu có thể chứng minh được việc vay nợ của người vợ nhằm kiếm tiền phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình thì người chồng vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014
Thứ ba, bản chất của giao dịch này là giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nếu người vợ bỏ trốn thì có thể căn cứ quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự
"1. Người nào có một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Nếu lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên thì sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân
........
4. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."
Vì vậy, để không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người vợ khi rời khỏi nơi cư trú để sinh sống ở nơi khác thì nên khai báo tạm trú, tạm vắng đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền. Đối với chủ nợ thì vẫn phải thể hiện thiện chí trả nợ bằng việc thỏa thuận các phương án trả nợ. Với các tình tiết như vậy, trường hợp không thỏa thuận được thì các chủ nợ cũng chỉ khởi kiện được người vợ ra Tòa án dân sự (với điều kiện người vợ không sử dụng khoản tiền vay này vào mục đích bất hợp pháp).
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời chị đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn chị đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
Ban biên tập – Luật Trần Gia










