Dân sự

Thắc mắc về án phí, chia phần nhà thừa kế và chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất

Cập nhật ngày: 26/11/2015
Câu hỏi: Thưa quý luật sư,

Tôi rất mong được sự giúp đỡ và tư vấn việc sau đây:

Nhà đất là của bà nội đứng tên. Bà nội mất năm 1978, có giấy di chúc hợp pháp.
Bố tôi là người thừa hưởng duy nhất.
Bố mẹ tôi có 7 người con gồm 4 trai và 3 gái. Bố tôi mất năm 1989, không để lại di chúc.
Nhà của bố tôi để lại có 3 căn. Mẹ tôi, gia đình chị cả, gia đình em trai mỗi bên ở 1 căn riêng.
Những người khác kể cả tôi thì đã định cư ở nước ngoài.
Năm 1999 mẹ và 3 chị em chúng tôi cùng đóng góp tài chánh xây dưng ngôi nhà mới lại.
Có giấy đồng ý của mọi người cho phá nhà, xây lại.
Nhà sau khi xây cất lại gồm có 3 căn, mỗi căn có 1 trệt và 2 lầu.
Em trai tôi đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng.
Trước khi mẹ mất, gia đình em trai tôi cũng rời Việt Nam, sinh sống ở nước ngoài.
Mẹ tôi mất năm 2010, không để lại di chúc.
Chị em chúng tôi 7 người có một Văn Bản Thỏa Thuận Phân Chia Tài Sản Thừa kế như sau:
Chị cả sở hữu 1 căn (DTKV 70m2)
Sáu anh em còn lại cùng sở hữu chung 2 căn còn lại (DTKV 140m2)
Văn bản đã được công chứng và đóng trước bạ.
Năm 2014 chúng tôi đã được cấp Giấy Chứng Nhân Quyền Sử Dụng Đất,
Quyền Sở Hữu Nhà Ở và Tài Sản khác gắn liền với đất
(Diện Tích: 210m2, số tầng: 3), do chị cả đứng tên
(là người đại diện của những người thừa kế)
Theo luật lệ áp dụng hiện giờ, các anh em sinh sống ở ngoại quốc
đa số hội đủ điều kiện để đứng tên sở hữu phần thừa hưởng của mình.

Vấn đề của chúng tôi hiên tại như sau:

1) Chị cả đang làm các thủ tục pháp lý cần thiết để tách thửa,
tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
Hố sơ đã nạp, nhưng chưa bổ túc được giấy ủy quyền của cô em út.

2) Hai đồng sở hữu và cô em út có ý định chuyển nhương phần mình cho chị cả
(hay con của chị cả). Chị cả và cô em này chưa thỏa thuận được với nhau
về chuyện chuyển nhương, do đo cô em út chưa chịu ký giấy ủy quyền.

3) Một cô em khác muốn biết cụ thể là phần của mình thuộc căn nào, tầng mấy.
Chia căn, chia tầng cũng là điều kiện của cô ấy, để chấp thuận việc
chuyển nhượng phần của đồng thừa kế khác.

Tôi có vài câu hỏi như sau:

1) Về việc : Tách thửa
Chuyện tách thửa có lẽ không thực hiện được vì thiếu 1 giấy ủy quyền.
a) Khả năng yêu cầu Tòa án giải quyết ra sao?
b) Mức án phí sẽ được quy định như thế nào?
c) Ai phải đóng nộp?

2) Về việc: Chuyển nhượng phần sở hữu chung

a) Chuyển nhượng phần có thể thực hiện không tùy thuộc
vào việc tách thửa của chị cả ?
b) Việc xác định phần tài sản của mỗi người trong khối tài sản chung
thuộc 2 căn nhà còn lại của 6 người nhất thiếc phải được thực hiên trước,
sau đó mới có chuyên chuyển nhượng phần tài sản cho người khác?
c) Việc chuyển nhượng không cần sự đồng ý, nhưng phải có sự thông báo
tới các đồng sở hữu khác thì được xem là phù hợp với các quy định của pháp luật?
(Điều 223 Bộ luật dân sự về định đoạt tài sản chung)
d) Trong trường hợp Điều 126 Luật nhà ở năm 2014 được áp dụng ở đây,
nếu có người không đồng ý cho đồng sở hữu chuyển nhượng phần của họ,
phải yêu cầu Tòa án giải quyết, mức án phí sẽ được quy định như thế nào,
ai phải đóng nộp?
e) Ai phải ký tên vào hợp đồng chuyển nhương? Chúng tôi đa số định cư ở nước ngoài,
phải cùng về nước để ký tên vào hợp đồng, hay có thể làm giấy ủy quyền
có công chứng tại Sứ quán Việt Nam là đủ?
f) Nếu chỉ là tặng cho phần thừa hưởng cho 1 đồng sở hữu khác,
điều kiện giải quyết cũng giống như việc bán phần hay sao?

3) Về việc: Khởi kiện ra tòa về chuyện chia tầng, chia căn cho 2 căn còn lại của 6 người

a) Yêu cầu tòa án xác định phần tài sản của mình, hướng giải quyết của tòa án ra sao?
Tòa án có quyết định bán nhà để chia đều hay chăng?
Đó là điều chúng tôi không ai mong muốn !
b) Chỉ có 6 người này có nghĩa vụ nộp tiền án phí, chị cả không có dính líu gì đến việc này phải không?
c) Giá trị tài sản có tranh chấp được quy định theo tri giá của nguyên nhà gồm 3 căn,
của 2 căn nhà, hay theo phần của 1 đồng sở hữu ?

Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
1. Về việc án phí.
Trong quan hệ dân sự, quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 4 Luật dân sự). Như vậy, đối với tranh chấp các bên nên thỏa thuận để đi đến phương án giải quyết. Nếu các bên không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án phân giải. Mức án phí, lệ phí anh có thể tham khảo thêm tại Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí.

2. Về việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì trường hợp tách thửa để chuyển nhượng một phần thửa đất thì thửa đất đó bắt buộc phải được đo đạc địa chính để xác định ranh giới phần thửa đất được chuyển nhượng.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 223 Bộ luật dân sự thì trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. 
Như vậy, việc thông báo tới các đồng sở hữu phải được lập thành văn bản, có xác nhận của các đồng sở hữu. Sau thời hạn ba tháng đối với bất động sản, một tháng đối với động sản mà các đồng sở hữu có không mua lại thì chủ sở hữu chung có quyền bán phần quyền sở hữu của mình. Trước khi chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình phải xác định phần quyền sở hữu của mình (Điều 216 Bộ luật dân sự).
Nhà ở thuộc sở hữu chung mà các đồng sở hữu có tranh chấp có thể nhờ Tòa án giải quyết. Mức lệ phí sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự là 200.000 đồng. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự anh có thể tham khảo bảng dưới đây (Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12):
Giá trị tài sản có tranh chấp
Mức án phí
a) từ 4.000.000 đồng trở xuống200.000 đồng
b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Khi chuyển nhượng tài sản chung, các đồng sở hữu phải ký vào Hợp đồng chuyển nhượng. Nếu đồng sở hữu ở nước ngoài không thể về ký hợp đồng thì có thể ủy quyền cho đồng sở hữu khác hoặc một người thứ ba. Việc ủy quyền được thực hiện tại Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài.

Nếu chủ sở hữu chung tặng cho phần quyền sở hữu của mình cho một chủ sở hữu chung khác thì điều kiện về thông báo tương tự như việc bán phần quyền sở hữu trong khối tài sản chung.

3. Về việc án phí khởi kiện ra tòa để chia tài sản chung.
Điều 7 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí quy định: "Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó."

Như vậy, chỉ có 6 người còn lại yêu cầu chia tài sản chung mới phải chịu án phí, mức án phí của mỗi người tương ứng với giá trị tài sản mà mỗi người được hưởng. 
Ví dụ: A, B, C, D tranh chấp khối tài sản chung có giá trị 600.000.000 đồng và không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung là khác nhau và có tranh chấp. Tòa án quyết định A được chia là 100.000.000 đồng, B được chia là 150.000.000 đồng, C được chia là 200.000.000 đồng và D được chia là 150.000.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm mỗi người phải nộp được tính như sau: 
A phải nộp án phí là 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng; 
B phải nộp án phí là 150.000.000 đồng x 5% = 7.500.000 đồng; 
C phải nộp án phí là 200.000.000 đồng x 5% = 10.000.000 đồng; 
D phải nộp án phí là 150.000.000 đồng x 5% = 7.500.000 đồng.

Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời anh đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.

Cám ơn anh đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!

Trân trọng!
Ban biên tập – Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Danh sách đối tác
Liên hệ ngay 🠪