Hai vợ chồng có nhất thiết phải cùng đứng tên trên bên nhận chuyển nhượng trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất?
Cập nhật ngày: 24/07/2015
Câu hỏi: Trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở mà bên nhận chuyển nhượng là hai vợ chồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”. Tuy nhiên, một số Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đã yêu cầu trên Văn bản công chứng phải ghi tên cả hai vợ chồng bên nhận chuyển nhượng. Vậy Văn phòng Đăng ký yêu cầu như trên đã hợp lý hay chưa?
Trả lời: Đối với trường hợp này, công chứng viên thực hiện như sau:
- Trường hợp có đủ cả hai vợ chồng ký vào Hợp đồng chuyển nhượng thì công chứng viên yêu cầu họ ký tên vào Hợp đồng và ghi nhận đầy đủ thông tin của hai vợ chồng vào Hợp đồng.
- Trường hợp vợ hoặc chồng có Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì công chứng viên ghi nhận nội dung thỏa thuận, trích dẫn Văn bản thỏa thuận nêu trên và cho người vợ hoặc người chồng ký vào Hợp đồng chuyển nhượng.
- Trường hợp vợ hoặc chồng không có Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chỉ có người vợ hoặc người chồng ký thì công chứng viên yêu cầu người đó cung cấp Giấy Đăng ký kết hôn, chứng minh nhân dân, hộ khẩu của người vợ hoặc người chồng vào Hợp đồng chuyển nhượng.
- Trường hợp độc thân thì phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Công chứng viên ghi nhận thông tin của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bên nhận chuyển nhượng vào Hợp đồng chuyển nhượng.
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng đã công chứng để đăng ký sang tên cho bên nhận chuyển nhượng. Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất không được yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải cung cấp Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy Đăng ký kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia
- Trường hợp có đủ cả hai vợ chồng ký vào Hợp đồng chuyển nhượng thì công chứng viên yêu cầu họ ký tên vào Hợp đồng và ghi nhận đầy đủ thông tin của hai vợ chồng vào Hợp đồng.
- Trường hợp vợ hoặc chồng có Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì công chứng viên ghi nhận nội dung thỏa thuận, trích dẫn Văn bản thỏa thuận nêu trên và cho người vợ hoặc người chồng ký vào Hợp đồng chuyển nhượng.
- Trường hợp vợ hoặc chồng không có Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng chỉ có người vợ hoặc người chồng ký thì công chứng viên yêu cầu người đó cung cấp Giấy Đăng ký kết hôn, chứng minh nhân dân, hộ khẩu của người vợ hoặc người chồng vào Hợp đồng chuyển nhượng.
- Trường hợp độc thân thì phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Công chứng viên ghi nhận thông tin của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bên nhận chuyển nhượng vào Hợp đồng chuyển nhượng.
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng đã công chứng để đăng ký sang tên cho bên nhận chuyển nhượng. Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất không được yêu cầu bên nhận chuyển nhượng phải cung cấp Văn bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực chỉ ghi tên một người trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy Đăng ký kết hôn, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










