Góp vốn thành lập công ty TNHH và chia lợi nhuận
Cập nhật ngày: 01/02/2016
Câu hỏi: Tôi xin phép được hỏi luật gia câu chuyện của tôi, nhờ luật sư hướng dẫn giúp tôi.
Vào đầu năm 2015 tôi và một người anh đồng nghiệp chơi thân với nhau. Tôi là Kỹ sư xây dựng sinh năm 1987, anh là Kiến trúc sư sinh năm 1982. Chúng tôi hợp ý và cùng chí hướng nên quyết định thành lập công ty về kiến trúc xây dựng. Và anh còn rủ thêm một thành viên là bạn anh nhà có điều kiện hùm vốn vào. Vốn chúng tôi đầu tư vào 200 triệu theo thỏa thuận:
Anh bạn anh hùm 100 triệu không làm lợi nhuận được chia 30%, anh 60 triệu lợi nhuận 38%, tôi 40 triệu lợi nhuận 32% và thỏa thuận miệng với nhau, để sau đó mới làm giấy sau, anh cũng định hướng là công ty TNHH và để anh làm giám đốc với vốn điều lệ 1.8 tỉ, anh đứng 1.1 tỉ (61.11%), tôi sau nhiều lần thỏa thuận anh mới cho tôi đứng 500tr (27.78%), còn một người bạn ạnh khác nhưng tôi không biết ai 200 triệu (11.11%). Chúng tôi có những ngày đầu tiên vui vẻ đi tìm kiếm mặt tiền xây dựng văn phòng công ty. Lúc này tôi và anh vẫn đi làm cùng nhau ở công ty cũ. Những ngày đầu thực sự chán nản nhưng rồi cũng vượt qua, sau đó anh nói anh nghỉ làm trước cộng tác công ty khác để có thời gian đi giao dịch anh là giám đốc là kiến trúc sư nên dễ đi quan hệ khách hàng bắt việc và ngoài thu nhập cộng tác và công ty cũng trích tiền để trả lương cho anh. Thời gian này em kinh tế yếu anh cũng nói em thì cố đi làm đi qua tết ổn rồi về làm, anh trả lương cho 10 để lo cho gia đình để yên tâm đi làm. Những ngày khó khăn đi qua và thuận lợi đang đến công ty có nhiều công trình thiết kế và có công trình thi công. Tôi cũng tham gia ngoài giờ công việc, cùng anh đi ki hợp đồng, tối về làm việc. Rồi công ty cũng ổn ổn lên có thu nhập. A giành quyền quản lý hết tài chính ký hợp đồng rồi lấy tiền về bỏ vào tài khoản cá nhân có công trình trị giá 2.2 tỉ. Tôi là Phó giám đốc nhưng không được đụng đến tiền bạc. Anh làm nhiều nên quyết định tất cả mọi thứ. Anh chỉ cho tôi phụ kĩ thuật. Công trình công ty thi công từ tháng 9 âm lịch đến 20/12 âm lịch 2015 hoàn thành. Trước khi 3 tuần chuẩn bị công trình xong và gần tết anh gọi tui lên và nói cho tui những lựa chọn anh tự đặt ra: 1. E nghỉ ngay về làm và hạ mức cổ phần xuống còn 25% lương 3 triệu / tháng. 2. Lương 7-8 triệu tháng 1 cổ phần 15%. 3. Anh than là lỗ anh kêu lấy nửa vốn về không cổ phần. ( tôi là người làm dự toán và vẫn nắm chi phí công trình. Tôi biết công trình lời ở khoảng hơn 300 triệu). Tôi nói vậy là không được thỏa thuận ban đầu là như thế kia tôi không đồng ý và muốn họp cổ đông bạn anh, anh không đồng ý, anh nói anh giám đốc nên quyết định mọi thứ. Tôi không đồng ý chờ suy nghĩ và gặp sau. Lần sau cũng nói vậy còn tôi không đồng ý. Tôi nói khi công trình xong 2 tuần nữa anh hẹn quyết toán hết công trình, rồi kiểm kê lại tài sản công ty, khấu hao đồ đạc giữ lại 200 triệu ban đầu. Còn lại chia theo tỉ lệ như thỏa thuận ban đầu. Anh nói anh giám đốc anh quyết định quyết toán vào tháng 12 dương lịch lúc công trình chưa xong nên lỗ. Tôi không chịu là đòi hỏi như vậy đến lúc này anh kêu được chỉ chỉ có rút vốn 40 triệu ban đầu thôi. Công trình thi công anh không khai báo thuế đóng hợp đồng nhân công. Anh khai báo tài chính lỗ để không đóng thuế doanh nghiệp. Tôi buồn vì niềm tin đặt không đúng chỗ. Theo luật sư tôi phải làm như thế nào để hợp lý để quyền lợi của tôi được đảm bảo…
Cảm ơn luật sư!
Vào đầu năm 2015 tôi và một người anh đồng nghiệp chơi thân với nhau. Tôi là Kỹ sư xây dựng sinh năm 1987, anh là Kiến trúc sư sinh năm 1982. Chúng tôi hợp ý và cùng chí hướng nên quyết định thành lập công ty về kiến trúc xây dựng. Và anh còn rủ thêm một thành viên là bạn anh nhà có điều kiện hùm vốn vào. Vốn chúng tôi đầu tư vào 200 triệu theo thỏa thuận:
Anh bạn anh hùm 100 triệu không làm lợi nhuận được chia 30%, anh 60 triệu lợi nhuận 38%, tôi 40 triệu lợi nhuận 32% và thỏa thuận miệng với nhau, để sau đó mới làm giấy sau, anh cũng định hướng là công ty TNHH và để anh làm giám đốc với vốn điều lệ 1.8 tỉ, anh đứng 1.1 tỉ (61.11%), tôi sau nhiều lần thỏa thuận anh mới cho tôi đứng 500tr (27.78%), còn một người bạn ạnh khác nhưng tôi không biết ai 200 triệu (11.11%). Chúng tôi có những ngày đầu tiên vui vẻ đi tìm kiếm mặt tiền xây dựng văn phòng công ty. Lúc này tôi và anh vẫn đi làm cùng nhau ở công ty cũ. Những ngày đầu thực sự chán nản nhưng rồi cũng vượt qua, sau đó anh nói anh nghỉ làm trước cộng tác công ty khác để có thời gian đi giao dịch anh là giám đốc là kiến trúc sư nên dễ đi quan hệ khách hàng bắt việc và ngoài thu nhập cộng tác và công ty cũng trích tiền để trả lương cho anh. Thời gian này em kinh tế yếu anh cũng nói em thì cố đi làm đi qua tết ổn rồi về làm, anh trả lương cho 10 để lo cho gia đình để yên tâm đi làm. Những ngày khó khăn đi qua và thuận lợi đang đến công ty có nhiều công trình thiết kế và có công trình thi công. Tôi cũng tham gia ngoài giờ công việc, cùng anh đi ki hợp đồng, tối về làm việc. Rồi công ty cũng ổn ổn lên có thu nhập. A giành quyền quản lý hết tài chính ký hợp đồng rồi lấy tiền về bỏ vào tài khoản cá nhân có công trình trị giá 2.2 tỉ. Tôi là Phó giám đốc nhưng không được đụng đến tiền bạc. Anh làm nhiều nên quyết định tất cả mọi thứ. Anh chỉ cho tôi phụ kĩ thuật. Công trình công ty thi công từ tháng 9 âm lịch đến 20/12 âm lịch 2015 hoàn thành. Trước khi 3 tuần chuẩn bị công trình xong và gần tết anh gọi tui lên và nói cho tui những lựa chọn anh tự đặt ra: 1. E nghỉ ngay về làm và hạ mức cổ phần xuống còn 25% lương 3 triệu / tháng. 2. Lương 7-8 triệu tháng 1 cổ phần 15%. 3. Anh than là lỗ anh kêu lấy nửa vốn về không cổ phần. ( tôi là người làm dự toán và vẫn nắm chi phí công trình. Tôi biết công trình lời ở khoảng hơn 300 triệu). Tôi nói vậy là không được thỏa thuận ban đầu là như thế kia tôi không đồng ý và muốn họp cổ đông bạn anh, anh không đồng ý, anh nói anh giám đốc nên quyết định mọi thứ. Tôi không đồng ý chờ suy nghĩ và gặp sau. Lần sau cũng nói vậy còn tôi không đồng ý. Tôi nói khi công trình xong 2 tuần nữa anh hẹn quyết toán hết công trình, rồi kiểm kê lại tài sản công ty, khấu hao đồ đạc giữ lại 200 triệu ban đầu. Còn lại chia theo tỉ lệ như thỏa thuận ban đầu. Anh nói anh giám đốc anh quyết định quyết toán vào tháng 12 dương lịch lúc công trình chưa xong nên lỗ. Tôi không chịu là đòi hỏi như vậy đến lúc này anh kêu được chỉ chỉ có rút vốn 40 triệu ban đầu thôi. Công trình thi công anh không khai báo thuế đóng hợp đồng nhân công. Anh khai báo tài chính lỗ để không đóng thuế doanh nghiệp. Tôi buồn vì niềm tin đặt không đúng chỗ. Theo luật sư tôi phải làm như thế nào để hợp lý để quyền lợi của tôi được đảm bảo…
Cảm ơn luật sư!
Trả lời: Do anh không nói rõ là số vốn thực góp có thay đổi không sau khi thành lập công ty, nội dung điều lệ công ty như thế nào nên chúng tôi sẽ tư vấn khái quát như sau:
1. Về việc chia lợi nhuận:
Khoản 3 Điều 50 Luật doanh nghiệp 2014 quy định quyền của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên: "Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật."
Tuy nhiên, đối với thành viên chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết chỉ có các quyền tương ứng với phần vốn thực góp (Điểm b Khoản 2 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2014).
Như vậy, lợi nhuận trong năm 2015 sẽ được chia theo số vốn thực góp của các thành viên công ty, theo đó:
- Anh A (Anh bạn của bạn anh) góp 100 triệu, chiếm 50%;
- Anh B (bạn anh) góp 60 triệu, chiếm 30%;
- Anh góp 40 triệu, chiếm 20%.
Do đó, nếu công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩ vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác thì các thành viên trong công ty anh có quyền nhận lợi nhuận năm 2015 tương ứng với phần vốn thực góp của năm 2015:
- Anh A hưởng 50% tổng lợi nhuận;
- Anh B, hưởng 30% tổng lợi nhuận;
- Anh hưởng 20 % tổng lợi nhuận.
2. Về việc rút vốn khỏi công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Theo quy định tại Điều 52 Luật doanh nghiệp 2014 thì anh có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:
- Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
- Tổ chức lại công ty;
- Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày công ty thông qua nghị quyết.
Ngoài ra, anh có quyền chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo Điều 53 Luật doanh nghiệp 2014 khi:
- Chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
- Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.
Anh có thể tham khảo các quy định trên để rút toàn bộ vốn góp của mình ra khỏi công ty mà mình đã góp vốn.
3. Khởi kiện người quản lý
Nếu anh vẫn muốn giữ nguyên thỏa thuận ban đầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh có thể khởi kiện người quản lý của công ty. Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 thì:
Điều 72. Khởi kiện người quản lý
1. Thành viên công ty tự mình, hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý khác vi phạm nghĩa vụ của người quản lý trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm quy định tại Điều 71 của Luật này;
Điều 71. Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên và người quản lý khác
1. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên và người quản lý khác của công ty có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;
b) Trung thành với lợi ích của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối;
d) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được tăng lương, trả thưởng khi công ty không có khả năng thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn.
3. Văn bản thông báo người có liên quan theo điểm c khoản 1 Điều này bao gồm nội dung sau đây:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, của doanh nghiệp mà họ có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần đó;
b) Tên, mã số doanh nghiệp địa chỉ trụ sở chính, của doanh nghiệp mà những người có liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 10% vốn điều lệ.
4. Việc kê khai quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày phát sinh hoặc thay đổi lợi ích liên quan. Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty và các giao dịch của họ với công ty. Danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty. Thành viên, người quản lý, Kiểm soát viên của công ty và người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục và sao một phần hoặc toàn bộ nội dung thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này trong giờ làm việc theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều lệ công ty.
b) Không thực hiện đúng và đầy đủ hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty về các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng thành viên;
c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2. Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
3. Chi phí khởi kiện trong trường hợp thành viên khởi kiện nhân danh công ty được tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện
Anh có thể căn cứ vào quy định này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời anh đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
1. Về việc chia lợi nhuận:
Khoản 3 Điều 50 Luật doanh nghiệp 2014 quy định quyền của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên: "Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật."
Tuy nhiên, đối với thành viên chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết chỉ có các quyền tương ứng với phần vốn thực góp (Điểm b Khoản 2 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2014).
Như vậy, lợi nhuận trong năm 2015 sẽ được chia theo số vốn thực góp của các thành viên công ty, theo đó:
- Anh A (Anh bạn của bạn anh) góp 100 triệu, chiếm 50%;
- Anh B (bạn anh) góp 60 triệu, chiếm 30%;
- Anh góp 40 triệu, chiếm 20%.
Do đó, nếu công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩ vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác thì các thành viên trong công ty anh có quyền nhận lợi nhuận năm 2015 tương ứng với phần vốn thực góp của năm 2015:
- Anh A hưởng 50% tổng lợi nhuận;
- Anh B, hưởng 30% tổng lợi nhuận;
- Anh hưởng 20 % tổng lợi nhuận.
2. Về việc rút vốn khỏi công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Theo quy định tại Điều 52 Luật doanh nghiệp 2014 thì anh có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:
- Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
- Tổ chức lại công ty;
- Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày công ty thông qua nghị quyết.
Ngoài ra, anh có quyền chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo Điều 53 Luật doanh nghiệp 2014 khi:
- Chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
- Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.
Anh có thể tham khảo các quy định trên để rút toàn bộ vốn góp của mình ra khỏi công ty mà mình đã góp vốn.
3. Khởi kiện người quản lý
Nếu anh vẫn muốn giữ nguyên thỏa thuận ban đầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh có thể khởi kiện người quản lý của công ty. Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 thì:
Điều 72. Khởi kiện người quản lý
1. Thành viên công ty tự mình, hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý khác vi phạm nghĩa vụ của người quản lý trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm quy định tại Điều 71 của Luật này;
Điều 71. Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên và người quản lý khác
1. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên và người quản lý khác của công ty có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty;
b) Trung thành với lợi ích của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
c) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty về doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối;
d) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được tăng lương, trả thưởng khi công ty không có khả năng thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn.
3. Văn bản thông báo người có liên quan theo điểm c khoản 1 Điều này bao gồm nội dung sau đây:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, của doanh nghiệp mà họ có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần đó;
b) Tên, mã số doanh nghiệp địa chỉ trụ sở chính, của doanh nghiệp mà những người có liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 10% vốn điều lệ.
4. Việc kê khai quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày phát sinh hoặc thay đổi lợi ích liên quan. Công ty phải tập hợp và cập nhật danh sách những người có liên quan của công ty và các giao dịch của họ với công ty. Danh sách này phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty. Thành viên, người quản lý, Kiểm soát viên của công ty và người đại diện theo ủy quyền của họ có quyền xem, trích lục và sao một phần hoặc toàn bộ nội dung thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này trong giờ làm việc theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều lệ công ty.
b) Không thực hiện đúng và đầy đủ hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty về các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng thành viên;
c) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2. Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
3. Chi phí khởi kiện trong trường hợp thành viên khởi kiện nhân danh công ty được tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện
Anh có thể căn cứ vào quy định này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời anh đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.
Cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
Trân trọng!
Ban biên tập – Luật Trần Gia










