Cha mẹ đã tặng cho đất thì có quyền được đòi lại hay không?
Cập nhật ngày: 25/07/2015
Câu hỏi: Vào năm 2000, cha mẹ tôi có cho tôi phần đất 200m2. Ra UBND phường xác nhận cho con rồi không đòi hỏi gì nữa, sau đó 2 năm tôi và cha mẹ tôi có làm thêm 1 tờ cam đoan đã cho con rồi nhưng vì kinh tế khó khăn nên chưa sang tên và cam kết không đòi lại (có đủ chữ kí của cha mẹ và các anh chị em ruột)... Đến nay, do đất sắp được qui hoạch nên cha mẹ của tôi muốn đòi lại. Vậy cha mẹ tôi có lấy lại được không thưa luật sư
Trên thực tế, là vợ chồng tôi đã sống trên đất này gần 20 năm rồi và đã xây dựng nhà cửa riêng, tách hộ khẩu riêng...chỉ tại ỷ lại cha mẹ đã viết di chúc nên cũng không đi sang tên.
Xin cho hỏi tôi có bị lấy mất nhà và đất không thưa luật sư?
Trên thực tế, là vợ chồng tôi đã sống trên đất này gần 20 năm rồi và đã xây dựng nhà cửa riêng, tách hộ khẩu riêng...chỉ tại ỷ lại cha mẹ đã viết di chúc nên cũng không đi sang tên.
Xin cho hỏi tôi có bị lấy mất nhà và đất không thưa luật sư?
Trả lời: Đầu tiên, xin anh làm rõ việc cha, mẹ anh là cho tặng anh hay là viết di chúc để lại cho anh mảnh đất đó:
- Đối với trường hợp cha, mẹ anh viết di chúc để lại cho anh mảnh đất đó thì mảnh đất đó chỉ thuộc về anh khi cả cha, mẹ anh chết.
- Đối với trường hợp cha, mẹ anh cho tặng anh mảnh đất đó, thì theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì:
“Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
....
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;”
Như vậy, căn cứ vào giấy tặng cho đất có xác nhận của phường năm 2000, anh có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất đó cho mình. Nhưng từ đó đến nay, anh vẫn chưa làm thủ tục đăng ký sang tên mà hiện nay lại có tranh chấp về quyền sử dụng đất với cha, mẹ anh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 thì anh chưa có quyền hoàn toàn đối với mảnh đất đó, và bây giờ anh cũng không thể đi làm thủ tục sang tên do đất đang có tranh chấp.
Khoản 3 Điều 188 Luật đất đai quy định:
“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
...
3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”
Trân trọng!
- Đối với trường hợp cha, mẹ anh viết di chúc để lại cho anh mảnh đất đó thì mảnh đất đó chỉ thuộc về anh khi cả cha, mẹ anh chết.
- Đối với trường hợp cha, mẹ anh cho tặng anh mảnh đất đó, thì theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì:
“Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
....
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;”
Như vậy, căn cứ vào giấy tặng cho đất có xác nhận của phường năm 2000, anh có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất đó cho mình. Nhưng từ đó đến nay, anh vẫn chưa làm thủ tục đăng ký sang tên mà hiện nay lại có tranh chấp về quyền sử dụng đất với cha, mẹ anh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 thì anh chưa có quyền hoàn toàn đối với mảnh đất đó, và bây giờ anh cũng không thể đi làm thủ tục sang tên do đất đang có tranh chấp.
Khoản 3 Điều 188 Luật đất đai quy định:
“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
...
3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”
Trân trọng!
Ban biên tập - Luật Trần Gia










